Thông tin chỉ đạo cấp ủy

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo

24/11/2022 07:22:7PM
Màu chữ Cỡ chữ

Ngày 14/11/2022, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh - Nguyễn Văn Được thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy kí ban hành Kế hoạch số 83-KH/TU thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 30/8/2022 của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

Long An là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Với vị trí phía Đông giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh; phía Tây giáp với tỉnh Đồng Tháp; phía Nam giáp với tỉnh Tiền Giang và phía Bắc giáp với Vương quốc Campuchia. Toàn tỉnh có 15 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: 01 thành phố, 01 thị xã và 13 huyện); diện tích tự nhiên toàn tỉnh 4.494,94 km2; dân số khoảng 1,7 triệu người. Tỉnh có đường biên giới quốc gia với Campuchia dài 134,906 km với 02 cửa khẩu lớn là cửa khẩu Quốc tế Bình Hiệp và cửa khẩu Quốc gia Mỹ Quý Tây,… Ngoài vị trí chiến lược trọng yếu ở phía Nam, trong thế trận phòng thủ Quân khu; địa bàn tỉnh Long An còn là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn ở khu vực phía Nam.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia công tác phòng thủ dân sự và đạt được những kết quả tích cực. Trên địa bàn tỉnh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của của cấp ủy, chính quyền địa phương trong thực hiện phòng thủ dân sự bước đầu đáp ứng được yêu cầu; hệ thống công trình phòng thủ dân sự được quan tâm đầu tư theo quy hoạch, kế hoạch bảo đảm hoạt động phòng thủ dân sự của các ngành, địa phương, đơn vị từng bước hoàn chỉnh; lực lượng kiêm nhiệm phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn đã được xây dựng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ sát với tình hình địa bàn tỉnh; giảm đáng kể thiệt hại về người và tài sản do các thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh gây ra.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phòng thủ dân sự trên địa bàn tỉnh còn những hạn chế, bất cập: Hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện, phổ cập kiến thức về phòng thủ dân sự chưa toàn diện; nhận thức về phòng thủ dân sự chưa thống nhất; cơ chế quản lý, chỉ đạo chưa tập trung; sự phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương có nội dung chưa đồng bộ; công tác dự báo, cảnh báo thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh,... còn bị động; đầu tư ngân sách, bảo đảm trang bị, vật tư cho phòng thủ dân sự còn phân tán và chưa tập trung đúng mức; việc ứng dụng khoa học công nghệ chưa tạo được đột phá trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục thảm hoạ, sự cố, thiên tai, dịch bệnh...; thực hiện phương châm “bốn tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ) trong xử trí các tình huống xảy ra trên địa bàn còn hạn chế.

Kế hoạch nhất quán 05 quan điểm chỉ đạo:

Một là, phòng thủ dân sự là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, phát huy vai trò, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Phòng thủ dân sự là bộ phận của phòng thủ đất nước bao gồm các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân; hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, ổn định đời sống nhân dân, đưa hoạt động kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trở lại bình thường.

Hai là, phòng thủ dân sự được thống nhất tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Người đứng đầu cấp ủy là người lãnh đạo, chỉ đạo cao nhất, toàn diện trong xây dựng chiến lược, phương án, kế hoạch hoạt động phòng thủ dân sự; người đứng đầu ủy ban nhân dân, cơ quan chức năng và tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa, triển khai tổ chức thực hiện ở cấp mình; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, sự phối hợp của các cấp, các ngành, địa phương, các lực lượng nhằm xử lý mọi tình huống chính xác, kịp thời và hiệu quả.

Ba là, phòng thủ dân sự phải chủ động, chuẩn bị từ sớm, từ xa, từ trước khi xảy ra chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân để phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả; thực hiện tốt phương châm “bốn tại chỗ” kết hợp với chi viện, hỗ trợ của Trung ương, các địa phương khác và cộng đồng quốc tế.

Bốn là, hoạt động phòng thủ dân sự phải dựa vào dân, dân là gốc. Lực lượng nòng cốt là: Dân quân tự vệ, dân phòng; công an xã, phường, thị trấn; lực lượng chuyên trách hoặc kiêm nhiệm của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và các sở, ngành, địa phương. Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham gia.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng thủ dân sự trên nguyên tắc bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị; tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Mục tiêu tổng quát được xác định: “Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn dân về phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, góp phần quan trọng vào ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh”.

Về mục tiêu cụ thể

*  Đến năm 2025

- Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất hành động, năng lực và kỹ năng ứng phó, khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh cho các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn dân; lồng ghép kiến thức phòng thủ dân sự vào chương trình môn học giáo dục quốc phòng và an ninh. Thực hiện Luật Phòng thủ dân sự quốc gia (khi được ban hành) và các văn bản pháp luật liên quan; trong đó, chú trọng bổ sung cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chủ trương, chính sách trưng thu, trưng dụng, huy động lực lượng, phương tiện, vật chất cho nhiệm vụ phòng thủ dân sự, đặc biệt trong lĩnh vực phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm hoạ, sự cố, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm,...; tập trung xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược phòng thủ dân sự trên địa bàn tỉnh.

- Kiện toàn tổ chức, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự (Ban Chỉ huy), cơ quan thường trực Ban Chỉ huy, cơ quan kiêm nhiệm giúp việc Ban Chỉ huy từ tỉnh đến địa phương và các cơ quan, đơn vị, lực lượng bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; khắc phục tình trạng chồng chéo trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, dàn trải trong đầu tư nguồn lực, bố trí nhân lực, bảo đảm phù hợp với điều kiện của tỉnh.

- Tổ chức rà soát quy hoạch, xây dựng phương án, kế hoạch phòng thủ dân sự từ tỉnh đến địa phương phù hợp với đặc điểm từng vùng, khu vực, lĩnh vực bảo đảm tính khả thi; xây dựng cơ chế vận hành hoạt động phòng thủ dân sự chặt chẽ, phân công, phân cấp, phân quyền rõ ràng và tương ứng với từng điều kiện, tình huống cụ thể trên địa bàn tỉnh.

* Đến năm 2030 và những năm tiếp theo

- Tiếp tục nâng cao nhận thức, kỹ năng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm hoạ, sự cố, thiên tai, dịch bệnh cho cộng đồng; tăng cường công tác đào tạo, tập huấn cho lực lượng kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự các cấp.

- Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án, dự án, trọng điểm về phòng thủ dân sự quốc gia; thống kê, quản lý, xây dựng phương án, kế hoạch khai thác sử dụng các công trình dân sinh, công trình phòng thủ dân sự kết hợp phòng thủ khu vực, huyện, thị xã, thành phố vào phục vụ công tác huấn luyện, luyện tập, diễn tập và thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự trên địa bàn tỉnh.

- Đầu tư hoàn thiện trang, thiết bị cho lực lượng kiêm nhiệm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ, kết hợp với nâng cao nhận thức năng lực xử lý tình huống cho các lực lượng, bảo đảm phòng ngừa thảm họa chiến tranh đối với các công trình, chương trình phát triển kinh tế - xã hội lớn, khu vực trọng điểm,...

Từ đó, Kế hoạch xác định 09 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

1. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và tham gia của toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Xác định phòng thủ dân sự là nhiệm vụ chính trị trọng yếu, thường xuyên; là trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

- Đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phòng thủ dân sự. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chính sách, phân bổ và phát huy hiệu quả các nguồn lực, chuẩn bị lực lượng, vật tư, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác phòng thủ dân sự. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kịp thời phát hiện các vấn đề bất cập trong cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện công tác phòng thủ dân sự trên địa bàn.

- Rà soát, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, cơ chế phối hợp liên ngành bảo đảm tinh, gọn, thống nhất, đồng bộ, kịp thời và hiệu quả. Hoàn thiện cơ chế hoạt động của Ban Chỉ huy về phòng thủ dân sự tỉnh nâng cao hiệu quả công tác, bảo đảm lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện và chuyên sâu theo các lĩnh vực, ngành.

2. Nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng, xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các lực lượng và nhân dân trong thực hiện phòng thủ dân sự

- Tăng cường và đổi mới nội dung, hình thức, thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của phòng thủ dân sự trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các lực lượng và người dân trong thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức về phòng thủ dân sự cho đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ thông tin tuyên truyền.

- Đa dạng hóa hình thức, phương pháp giáo dục, phổ biến, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nội dung cơ bản trong phòng, chống chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh,... cho người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội, nhất là kỹ năng cần thiết tự bảo vệ mình và chung tay bảo vệ cộng đồng. Nghiên cứu đưa nội dung cơ bản về phòng thủ dân sự vào chương trình giảng dạy trong các nhà trường, cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh.

- Tích cực, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu lợi dụng thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh để xuyên tạc, kích động gây mất an ninh, trật tự, chống phá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng thủ dân sự trên địa bàn tỉnh.

3. Tiếp tục triển khai pháp luật về phòng thủ dân sự

- Quán triệt, triển khai thực hiện Luật Phòng thủ dân sự quốc gia (khi được ban hành) và các văn bản liên quan của Trung ương, của tỉnh; rà soát, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng thủ dân sự; đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ phòng thủ dân sự trong tình hình mới.

- Tập trung nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, quy định (thuộc thẩm quyền của tỉnh) nhằm ngăn ngừa, hạn chế sự cố do lỗi chủ quan của con người gây ra; thống nhất cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng mọi nguồn lực của tỉnh trong lĩnh vực phòng thủ dân sự.

- Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia phòng thủ dân sự, xây dựng và kiện toàn mô hình tổ, đội xung kích ở cơ sở, phát huy tính tự chủ, tự lực của địa phương để xử lý kịp thời, linh hoạt các tình huống trong phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm hoạ, sự cố, thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn.

4. Thực hiện Chiến lược phòng thủ dân sự đặt trong tổng thể Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc và kết hợp chặt chẽ với các chiến lược chuyên ngành liên quan

- Chiến lược phòng thủ dân sự phải gắn với quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, các vùng, khu vực, ngành, địa phương, kịp thời điều chỉnh khi có chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên địa bàn.

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh trong các dự án lớn, quy hoạch phát triển các vùng, khu vực, ngành, nhất là vùng kinh tế trọng điểm, các địa bàn chiến lược.

- Đầu tư xây dựng cơ bản hệ thống công trình phòng thủ dân sự theo quy hoạch, kế hoạch, chú trọng tính lưỡng dụng của các công trình, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa thực hiện Chiến lược phòng thủ dân sự với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia và thực hiện các chiến lược chuyên ngành có liên quan.

5. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và năng lực ứng phó, khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh

- Tăng cường nghiên cứu, phát triển khoa học - công nghệ phục vụ phòng thủ dân sự; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tự động hoá trong quan trắc, giám sát, dự báo và cảnh báo thiên tai. Xây dựng, kết nối các trung tâm dự báo khí tượng thủy văn, các trạm quan sát báo động, mạng thông tin từ tỉnh đến cơ sở; các trung tâm chỉ huy, điều hành, phối hợp các lực lượng, phương tiện,... tạo thành mạng thông tin dự báo, cảnh báo, thông báo, báo động thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự trên phạm vi toàn tỉnh.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, vật liệu mới trong xây dựng công trình hạ tầng, công trình phòng, chống thiên tai, công trình phòng không nhân dân. Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, cải tiến phương tiện, trang bị phù hợp với đặc thù công tác ứng phó khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm họa sự cố, thiên tai, dịch bệnh,...

- Tập trung xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực phòng thủ dân sự; có chính sách phù hợp để đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và đãi ngộ xứng đáng đội ngũ này.

6. Đa dạng hoá và ưu tiên các nguồn lực để phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh

- Xây dựng cơ chế, chính sách để đa dạng hoá nguồn lực đáp ứng yêu cầu công tác phòng thủ dân sự. Quản lý, phân bổ, sử dụng hợp lý, minh bạch nguồn lực triển khai các công trình phòng ngừa hậu quả chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh và các công trình hạ tầng liên quan đến hoạt động phòng thủ dân sự.

- Ưu tiên huy động, sử dụng nguồn lực tại chỗ, kết hợp với nguồn lực hợp pháp khác, sự chi viện của Trung ương, địa phương khác và cộng đồng quốc tế theo quy định của pháp luật cho các địa phương, khu vực, các lĩnh vực chịu ảnh hưởng hậu quả chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh ... bảo đảm kịp thời, có hiệu quả.

- Tập trung đầu tư ngân sách triển khai các chương trình, công trình trọng điểm ở những nơi khó khăn, nguồn lực hạn chế; tăng cường xã hội hoá các chương trình, các hoạt động mang tính cộng đồng để động viên các thành phần trong xã hội tích cực tham gia hoạt động phòng thủ dân sự.

7. Chú trọng xây dựng lực lượng và tăng cường huấn luyện, diễn tập, nâng cao trình độ, năng lực thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự

- Xây dựng lực lượng kiêm nhiệm cả về tổ chức và trang bị, thiết bị theo hướng hiện đại, thiết thực đủ sức làm tốt vai trò lực lượng nòng cốt trong phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh, thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh. Tăng cường trang bị phương tiện lưỡng dụng cho lực lượng vũ trang để nâng cao năng lực ứng phó, khắc phục hậu quả tại cơ sở.

- Xây dựng nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp huấn luyện, diễn tập phòng thủ dân sự kết hợp với diễn tập khu vực phòng thủ sát tình hình thực tế, có tính khả thi. Tăng cường diễn tập cộng đồng, chú trọng diễn tập ứng phó với các loại hình rủi ro nguy cơ cao và mức độ ảnh hưởng lớn; lựa chọn hình thức diễn tập phù hợp để huy động đông đảo người dân tham gia.

8. Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng thủ dân sự

- Tăng cường, phát triển mối quan hệ hữu nghị, truyền thống, tình đoàn kết, sự hợp tác toàn diện và giúp đỡ lẫn nhau của quân đội và nhân dân hai nước khu vực biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia trên địa bàn tỉnh trong hoạt động phòng thủ dân sự; góp phần giữ vững an ninh chính trị, xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác cùng phát triển.

- Chủ động, tích cực hợp tác với Vương quốc Campuchia, đặc biệt khu vực biên giới để kịp thời chia sẻ thông tin dự báo, cảnh báo thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, phòng, chống biến đổi khí hậu; chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, cứu trợ nhân đạo; đẩy mạnh phối hợp quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên; phối hợp bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, chủ động ứng phó với thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh khu vực biên giới.

- Phân công cán bộ tham gia đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học theo chỉ tiêu nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu trước mắt và lâu dài cho phòng thủ dân sự trên địa bàn.

- Tham gia các hoạt động hội thảo, diễn đàn, luyện tập, diễn tập khu vực biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia về phòng thủ dân sự; thực hiện cơ chế hợp tác, hỗ trợ trong các tình huống thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh xuyên biên giới trên địa bàn tỉnh.

9. Tiến hành sơ kết, tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận về phòng thủ dân sự

- Việc sơ kết, tổng kết để đánh giá, rút kinh nghiệm quá trình thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự phải gắn với sơ kết, tổng kết các mặt công tác của cơ quan, đơn vị; nhất là sau quá trình xử lý, khắc phục thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn.

- Các cơ quan, đơn vị nghiên cứu cần chủ động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận về phòng thủ dân sự trong tình hình mới.

Về tổ chức thực hiện Kế hoạch, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu:

1. Các huyện ủy, thị ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các ban, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh tổ chức quán triệt, triển khai nghiêm túc Nghị quyết số 22-NQ/TW và Kế hoạch này; đồng thời, căn cứ chức năng nhiệm vụ chính trị được giao, xây dựng kế hoạch thực hiện hiệu quả, sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị.

2. Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo việc rà soát sửa đổi, bổ sung, xây dựng các văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về phòng thủ dân sự, tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho việc thực hiện và giám sát việc thực hiện Kế hoạch.

3. Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ quy định của pháp luật chỉ đạo rà soát việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; kịp thời điều chỉnh các chương trình, kế hoạch, giải pháp thực hiện phù hợp với yêu cầu thực tế. Chỉ đạo xây dựng chương trình hành động tổ chức thực hiện Kế hoạch, triển khai thực hiện Chiến lược phòng thủ dân sự bảo đảm thống nhất, đồng bộ, khả thi; bố trí ngân sách, huy động các nguồn lực để thực hiện Kế hoạch.

4. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Quân sự tỉnh và các cơ quan liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kế hoạch đến các cấp ủy đảng, chi bộ và đảng viên. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các hoạt động phòng thủ dân sự.

5. Giao Đảng ủy Quân sự tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu triển khai thực hiện Chiến lược phòng thủ dân sự quốc gia; xây dựng chương trình, kế hoạch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt để triển khai, tổ chức thực hiện hiệu quả; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Kế hoạch này; định kỳ sơ kết, tổng kết và báo cáo kết quả thực hiện; kịp thời tham mưu, đề xuất Ban Thường vụ Tỉnh ủy giải quyết những vấn đề, khó khăn, vướng mắc phát sinh theo quy định.

Tổng hợp - VPTU

 

 

 

Các tin khác

  • Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo công tác học tập, quán triệt, tuyên truyền và thực hiện Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị (13/09/2024)
  • Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới (12/09/2024)
  • Quy chế công tác dân vận được Sở Y tế, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai nghiêm túc, hiệu quả (30/08/2024)
  • Biên chế năm 2025 của tỉnh sẽ giảm hơn 1.000 biên chế so với năm 2022 (22/08/2024)
  • Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ thị: Nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2025 (21/08/2024)
  • Tăng cường quản lý, sử dụng hóa đơn điện tử và đẩy mạnh việc đôn đốc, thu hồi nợ đọng thuế (19/08/2024)
  • Long An: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (16/08/2024)
  • Ban Thường vụ Tỉnh ủy quy định mới về tiêu chí, quy trình đánh giá chất lượng đảng bộ cấp huyện và tương đương hàng năm (16/08/2024)
  • Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị khắc phục ngay những hạn chế trong tham mưu văn bản và tổ chức các hội nghị (06/08/2024)
  • Ban Thường vụ Tỉnh ủy quy định mới về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp (23/07/2024)
  • Trang đầu 12345678910 Trang cuối